NUÔI ẾCH

Phòng, trị một số bệnh thường gặp trên ếch nuôi

Ếch là loài đặc sản, có giá trị dinh dưỡng cao. Để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, hiện nay ếch được nuôi nhiều với các hình thức rất đa dạng như nuôi trong ao, trong bể ximăng, trong giai…đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và trở thành một đối tượng có triển vọng xuất khẩu cần được phát triển. Tuy nhiên, cũng như các loài thủy sản khác, trong quá trình nuôi vẫn không sao tránh khỏi bệnh có thể xảy ra. Với những thông tin sau đây với mong muốn giúp người nuôi giảm thiểu tổn thất do bệnh trong quá trình nuôi.

1. Phòng bệnh

- Vệ sinh và tẩy trùng ao, vườn trước khi nuôi bằng vôi

- Ðảm bảo nguồn nước sạch và giữ được vệ sinh khu nuôi ếch; nước ao nuôi không bị chua, thối đục, không có hoá chất độc.

- Kiểm tra ếch giống khi mua về, có thể tắm nước muối ăn 3%; nếu con nào bị chết phải loại bỏ ra ngay.

- Ðảm bảo số và chất lượng thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của nòng nọc và ếch;

- Không khuấy động làm ếch giật mình căng thẳng. Cho ăn thức ăn tươi, sạch. Có bóng mát che nắng, chống nóng. Chú ý không để chim chuột ăn thịt ếch..

- Thường xuyên vệ sinh, tẩy trùng dụng cụ cho ăn, sàn ăn.

- Không để xảy ra dịch bệnh.

2. Trị một số bệnh thường gặp

Nguyên nhân gây bệnh cho ếch thường là do ếch ốm yếu, môi trường nuôi nhiễm bẩn, ếch rất dễ bị bệnh ngoài da, sau đó nhiễm trùng dẫn đến ếch bị trướng bụng, da tái đi, không ăn và chết.

2.1. Bệnh trướng hơi:

* Dấu hiệu thường thấy ở nòng nọc, bụng trướng to và ngửa bụng lên mặt nước, bệnh này do nước thối bẩn, thức ăn ươn thối.

* Phải tháo hết nước trong bể, vớt nòng nọc thả vào chậu chứa khoảng 5 lít nước hoà với 3 lọ Penicillin loại 1 triệu đơn vị, ngâm tắm nòng nọc trong 30 phút rồi thả vào bể đã làm vệ sinh, thay nước mới. Cũng có thể tắm bằng Sunfat đồng (CuSO4 ) nồng độ 5 phần triệu hoặc nước muối ăn 3% trong 10 phút.

2.2.Bệnh đường ruột (bệnh kiết lỵ):

* Dấu hiệu thường thấy là ếch bài tiết ra phân trắng và phân sống. Khi bị bệnh hậu môn đỏ, bóp hậu môn thấy máu chảy ra.

* Dùng một viên Ganidan/1.000-3.000 con/ngày ( hoặc 1 viên/1kg thức ăn), trộn vào thức ăn liên tục trong 3-4 ngày. Khi nòng nọc bị bệnh phải giảm lượng thức ăn xuống còn 50% lượng thức ăn hàng ngày.

2.3. Bệnh đốm đỏ đùi:

*Bệnh do vi khuẩn gây nên. Ở đùi ếch có những đốm đỏ, sau vài ngày không chữa kịp thời sẽ bị lở loét. Bệnh thường thấy ở ếch giống.

*Khi phát hiện bệnh, trước hết phải thay nước, nếu không hiệu quả phải dùng thuốc Sunfat đồng phun xuống ao và vườn. Liều lượng 1,5g/m3. Bệnh này rất dễ lây lan do đó cần có biện pháp đề phòng lây lan thành dịch.

2.4. Bệnh trùng bánh xe:

*Ký sinh ở da nòng nọc, khi trời nóng, gió đông thường xảy ra bệnh này. Khi có trùng ký sinh, da ếch tiết ra nhiều dịch nhờn, tạo nên những điểm màu trắng bạc.

* Dùng sunfat đồng liều lượng 2-3g/m3 nước phun toàn ao, hoặc tắm cho ếch với liều lượng 5-7g/m3 trong vòng 10-15 phút, hay tắm trong nước muối 2-3% trong vòng 10-15 phút.

Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long - AG, 5/12/2006

 

Phong trào nuôi ếch công nghiệp gia tăng

SGGP, 30/7/2005

Vài tháng nay, nhu cầu ếch giống công nghiệp (giống Thái Lan) liên tục tăng cao, vượt quá khả năng đáp ứng của các trại giống trên địa bàn TP. HCM. Anh Nguyễn Thái Bình, chủ trại ếch giống Thanh Khiết (Tân Thông Hội, Củ Chi) cho biết, mỗi tháng anh cung ứng khoảng 100.000 con ếch giống nhưng vẫn không đủ bán, khách đến mua ngày càng đông, muốn mua từ 5000 con trở lên phải đặt hàng trước 10-15 ngày mới có. Ước tính nhu cầu vượt gấp 2-3 lần năng lực của trại. Trại ếch giống của anh Hồ Minh Thiện (Nhị Bình - Hóc Môn) cũng đang đắt khách. Khách đến hỏi mua đa phần đều về tay không hoặc chỉ được vài trăm con, muốn mua số lượng lớn phải báo trước 1-2 tuần ... Tuy nhiên giá ếch giống vẫn chưa tăng, dao động từ 1.200đ-1.500đ/con (35-40 ngày tuổi).

Được biết hiện nay phong trào nuôi ếch công nghiệp đang rộ lên ở các huyện ngoại thành như Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ... Trong khi con giống chủ yếu do các trại giống ở TP.HCM (chỉ khoảng 5-6 trại) cung ứng. Theo tính toán của nhiều trại giống và nông dân, nuôi ếch công nghiệp không cần nhiều vốn, 2-3 triệu đồng là đủ, mỗi lứa khoảng 3 tháng, với thời giá ếch thịt hiện nay (30.000đ - 40.000đ/kg, tùy loại), thì vụ đầu đã thu hồi vốn và có thể lời 40% - 50%, các vụ sau cầm chắc một lời một trở lên. 

Hoàng Liêm

 


ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ QUY TRÌNH KỸ THUẬT

NUÔI ẾCH ĐỒNG


Xem thêm:    

- Nuôi ếch đồng

- Sinh sản và ương, nuôi ếch thịt

- Nuôi ếch trong ruộng lúa

- Kinh nghiệm nuôi ếch đồng ở Cần Thơ

- Ếch Thái Lan: Nuôi 1, lời...3!

- Kỹ thuật nuôi công nghiệp ếch Thái lan

- Các bệnh thường gặp khi nuôi ếch công nghiệp


I. Ðặc điểm sinh học

1 Phân bố và sinh sống:

Nhóm ếch nhái trên thế giới có đến 2000 loài. Việt Nam có nguồn lợi ếch hết sức phong phú như : ếch xanh, ếch gai, ếch vạch, ếch cốm, ếch giun, ếch bám đá, ếch leo cây Trong đó, ếch đồng là có giá trị hơn cả.

ếch đồng sống ở khắp nơi ao hồ, đồng ruộng, sông ngòi, mương máng, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt. ếch là loại động vật máu lạnh, sống ở 2 môi trường trên cạn và dưới nước. Phổi ếch cấu tạo đơn giản, nên ngoài thở bằng phổi, ếch còn thở bằng da (da ếch có khă năng vận chuyển 51% ôxy và 86% CO2). Trên da ếch có rất nhiều mao mạch, ôxy trong không khí hoà tan vào chất nhầy trên da ếch, thấm qua da lọt vào các mao mạch, còn CO2 được thải ra theo con đường ngược lại. nếu da ếch thiếu nước, bị khô ếch sẽ chết. ếch có thể sống tới 15 - 16 năm. ếch kém chịu rét và nóng, lại không biết đào hang hầm để trú đông. ếch thích những nơi nước béo, có nhiều thức ăn thiên nhiên : Ruồi, muỗi, giun, ốc, trai, hến, các loại ấu trùng côn trùng Mắt ếch lồi to, có mí mắt. Tuy ngồi giương mắt ếch nhưng thực tế lại kém tinh, ếch chỉ nhìn rõ những con vật di động (hoặc màu đỏ, màu xanh da trời ) và phản ứng bắt mồi rất nhạy bén. Còn những vật tĩnh, ếch lại phát hiện kém. Da ếch có khả năng thay đổi màu sắc để phù hợp với môi trường sống, cũng là cách nguỵ trang trốn tránh kẻ thù và rình bắt mồi, ếch không ưa đất nước chua mặn, sợ rắn, chuột, sợ kim loại nặng, sợ tàn thuốc lá, thuốc lào và các chất độc khác.

2 Tập tính ăn uống

Ngoài thức ăn tự nhiên nói trên, ếch còn ăn các loại cám gạo, bột ngô, bột ngũ cốc trộn với cá, tôm, tép, lươn, chạch Khi còn nhỏ, chúng rất thích ăn cám gạo (có can xi giúp cho nòng nọc phát triển bộ xương), ốc, cua, cá giã nhỏ và các ấu trùng côn trùng ếch có khả năng nhảy xa, bơi lội giỏi, song thực chất chúng sống khá thụ động, chỉ quanh quẩn gần nơi ở. ếch thường ngồi một chỗ để quan sát những con mồi di động, khi con mồi tiến lại gần, ếch ngóc đầu lên và phóng lưỡi ra như một tia chớp dính lấy con mồi, cuốn ngay vào miệng rồi dồn sức nhắm mắt nuốt chửng con mồi. Nó có thể nuốt được một con cua khá to. Người ta quan sát thấy nó dùng bàn tay vỗ nhẹ vào lưng cua, làm cho cua sợ, rúm cả chân, càng lại, nộp mình cho nó nuốt dễ dàng. Nuốt mồi xong, ếch lại tiếp tục ngồi rình con mồi khác.

3 Sinh trưởng

Nuôi từ cỡ ếch giống 3 - 5 g/con, sau 1 tháng có thể đạt 25 - 30 g/con, nuôi tiếp 3 - 4 tháng thành ếch thương phẩm cỡ 80 - 100 g/con. Sống ngoài tự nhiên ếch 1 tuổi, con cái nặng 60g, con đực nặng 50g.

4 Sinh sản

ếch đẻ rộ vào mùa xuân, những đêm mưa rào, chúng gọi nhau ra các đồng lúa, đồng màu để đẻ. Tiếng ếch kêu vang dậy không gian, đó là những tiếng kêu tỏ tình của chúng trong đêm hội giao hoan mừng vũ cốc . To mồm và lắm lời nhất là lũ ếch đực. Còn ếch cái chỉ kêu nhỏ nhẹ và rời rạc.
ếch đực kêu to vang vọng là nhờ có hai túi kêu mỏng thông với xoang miệng như hai chiếc loa thùng khuếch đại âm thanh. Những tiếng kêu là sự đấu khẩu giữa các con đực để giành giật con cái, khiến con cái không thể chịu được nữa sẽ hướng theo tiếng gọi mà tìm đến kết đôi. Những con đực yếu thế đành bỏ cuộc, đi tìm đối tượng khác. Bàn tay (chi trước) của ếch đực còn có chai tay tại gốc ngón tay thứ nhất hình thành một u lồi đã hoá sừng màu xanh đen, gọi là chai sinh dục . Chai tay này có sức truyền cảm giới tính, dùng để bám vào ếch cái khi cặp đôi. Nó luồn hai tay vào nách con cái, ôm ghì chặt rồi dùng bàn tay chai tình tứ sờ vào ngực ếch cái. Con cái bị kích thích, đẻ trứng, con đực cũng kịp thời phóng tinh lên trên, để thụ tinh cho trứng. Ðó là sự thụ tinh ngoài (giống như họ hàng nhà cá). Trứng gặp tinh trùng thụ tinh, rơi xuống nước và trương to lên dính vào nhau tạo thành màng trứng nổi trên mặt nước. Trứng ếch hình tròn (nhỏ hơn trứng cá chép), có 2 phần trắng đen rõ rệt, một nửa hình cầu màu đen hướng lên trên, gọi là cực động vật, một nửa sau màu trắng nằm phía dưới. Trứng tiếp tục phát triển thành bào thai, sau 7 - 10 ngày trứng nở thành nòng nọc (thở bằng mang như cá). Nòng nọc phát triển 30 - 40 ngày sau, 2 chân sau mọc ra, rồi 2 chân trước, đuôi rụng, mang teo dần rồi xuất hiện phổi, lúc đó nòng nọc biến thành ếch và sống trên cạn. ếch 1 tuổi (50 - 60 g/con) đã tham gia sinh sản. ếch 2 - 3 tuổi sẽ cho thế hệ con tốt hơn. Mùa ếch đẻ từ tháng 3 - 7 âm lịch. ếch đẻ theo từng cặp 1 đực/1 cái. ếch cái đẻ năm thứ nhất từ 2.500 - 3.000 trứng. ếch 3 - 4 tuổi đẻ 4.000 - 5.000 trứng/năm.

 

II. Qui trình nuôi ếch đồng

1 Nuôi ếch thịt

1.1 Ðịa điểm nuôi ếch :

- Vườn hoặc ao có diện tích từ 50m2 trở lên;

- Có nước sạch chủ động;

- Có tường gạch bao quanh;

- Có hang trú ẩn cho ếch;

- Bờ ao, mương trồng cây xanh tạo bóng mát;

- Mặt nước thả bèo tây hoặc rau muống ính 2/3 diện tích ao;

- Trong vườn tạo thêm ánh sáng màu và trồng nhiều hoa.

1.2 Thả giống :

- ếch giống cỡ 5 - 10g/con, đảm bảo chất lượng và quen ăn thức ăn chế biến;

- Mật độ thả : 40 - 60 con/m2.

1.3 Cho ăn :

- Thức ăn : Ngoài các loại giun đất, giòi, tôm tép, cua và các loại côn trùng khác cho ếch ăn thêm bột ngũ cốc nấu chín để nguội (80%) trộn với cá tạp ruột ốc xay nhỏ (20%);

- Khẩu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch trong ao, cho ăn 2 lần (sáng và chiều) trong ngày;

- Trước khi cho ếch ăn, phải vệ sinh sạch sẽ sàn ăn.

1.4 Chăm sóc quản lý :

- Tạo thêm thức ăn cho ếch : Trong khu nuôi ếch thả cua, cá vào nuôi trong ao, mương hoặc đào hố cạnh ao để bỏ phân bắc, cá chết, gà chết ít ngày sẽ sinh giòi bọ, vớt giòi, bọ rửa sạch cho ếch ăn;

- Hằng ngày theo dõi mọi hoạt động của ếch : Mức ăn, tốc độ lớn, tình hình bệnh, chất nước xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra;

- Sau khi thả giống, nuôi 4 - 5 tháng, ếch có thể đạt 80 - 100 g/con.

2 Sản xuất ếch con

2.1 Nuôi ếch bố mẹ để cho đẻ

* Nơi nuôi vỗ :

- Ðiều kiện ao, vườn như ao nuôi ếch thịt;

- Nơi có điều kiện thì nuôi riêng đực - cái 1 tháng, trước khi cho đẻ.

* Phân biệt đực - cái :

- ếch đực : Có 2 màng kêu (2 chấm đen) ở hàm dưới, hai bên hầu, gọi là túi âm thanh. Bàn chân trước nháp hơn, ngón chân trước có mấu thịt hoá sừng (chai sinh dục), da ếch đực màu xám, không trơn bóng như ếch cái, cùng tuổi, ếch đực nhỏ hơn ếch cái, ếch đực càng già, màng kêu càng to, tiếng kêu càng dõng dạc vang xa;

- ếch cái : Không có đặc điểm như ếch đực, đến mùa sinh sản thì ếch cái bụng to, mềm hơn ếch đực.

* Mật độ nuôi vỗ :

- ếch đực : 3 - 5 con/m2, ếch cái 3 - 4 con/m2;

- Khi cho đẻ : Mật độ : 1 - 5 cặp/m2 mặt nước.

* Chế độ nuôi vỗ :

- Tăng tỷ lệ đạm động vật trong khẩu phần thức ăn, ngoài giun, giòi, cua, ốc, trong thức ăn chế biến có 30% thịt cá và 70% bột ngũ cốc;

- Quản lý như nuôi ếch thịt.

2.2 Cho ếch đẻ

- Ðầu tháng 3 âm lịch, khi thấy bụng ếch cái to mềm và có tiếng kêu thưa thớt của ếch đực, là báo hiệu 3 - 4 ngày sau ếch sẵn sàng đi đẻ;

- Nếu nuôi riêng đực - cái thì tối hôm đó, phải mở cửa để ếch đực sang với ếch cái.

2.3 ương trứng ếch

* ương tại ao : ếch đẻ đêm thì sáng hôm sau chuyển hết ếch bố mẹ, để nguyên các ổ trứng trong ao, ương cho nở tự nhiên; tuỳ theo nhiệt độ, khoảng 24 giờ sau trứng nở thành nòng nọc; gây phù du động vật cho nòng nọc, như gây màu cho ao ương cá bột; sau khi nở 3 - 4 ngày, cho nòng nọc ăn thêm bột mỳ, bột gạo từ : 200 - 300 g/1 vạn con/ngày; mật độ ương khoảng 2000 trứng/m2 mặt nước; tỷ lệ nở bình quân 50%; sau 15 ngày có thể san thưa nòng nọc, đem nuôi ở ao, bể khác.

* ương trong giai, bể : Có lợi là tập trung trứng về một chỗ, tiện quản lý chăm sóc nhưng phải đảm bảo nước sạch, đủ ôxy và an toàn.

* ương trong ô xếp gạch, lót nilon : Thay nước ngày 1 - 2 lần hoặc có máy sục khí. Mật độ 1 - 2 vạn trứng/m2.

Cách vớt trứng : ếch đẻ đêm, thì sáng hôm sau đem xô, chậu đi vớt ngay. Dùng đĩa, chậu nhỏ vớt nguyên cả màng trứng rồi đổ nhẹ vào chậu to, xô (có chứa vài lít nước sạch). Khi trứng đã kín mặt chậu, xô phải chuyển về bể, giai, ô rồi đi vớt mẻ khác.

Trứng ếch ương ở nhiệt độ 22 - 26oC chỉ sau 22 giờ sẽ nở ra nòng nọc. Trong 2 - 3 ngày đầu nòng nọc có khả năng tự dưỡng nhờ bọc noãn hoàng dự trữ ở dưới bụng. Khi noãn hoàng tiêu hết, nòng nọc mới tự đi kiếm ăn. Mật độ nòng nọc : 15000- 2000con/m2.

Cho nòng nọc ăn : Sau khi nở 3 - 4 ngày, vớt phù du động vật từ ao về cho ăn hoặc cho ăn bằng lòng đỏ trứng (4 quả/1 vạn nòng nọc/2 bữa sáng, chiều) bóp nhuyễn, rắc đều quanh bể. Trung bình từ nòng nọc lên ếch giống đạt tỷ lệ sống 50%.

San thưa : Sau 8 ngày nuôi ở bể, san thưa với mật độ 500 - 1000 con/m2. Thức ăn bổ sung gồm : 20 - 30 % đạm động vật trộn với 70 - 80% bột ngũ cốc. Khẩu phần ăn/ngày : 0,5 - 1 kg/1 vạn con. Tuỳ theo nhiệt độ, khoảng 21 - 25 ngày, nòng nọc biến thái thành ếch con.

2.4 Nuôi ếch giống

* Mật độ : Thả 50 - 100 con/m2 (cỡ 2/5 g/con).

* Thức ăn : 30% tôm, tép, cá xay nhỏ trộn với 70% mì sợi, bún khô ngâm nước, cắt đoạn hoặc cơm nguội; ngày cho ếch ăn 2 lần sáng và chiều; khẩu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch có trong ao, vườn (khoảng 1 kg thức ăn/1000 con/ngày); khoảng 50 ngày tuổi, ếch con đạt cỡ ếch giống (5 - 10g/con); chuyển đi nuôi thành ếch thịt.

3. Thu hoạch và vận chuyển

3.1 Thu hoạch :

- Thu nòng nọc bằng lưới cá hương;

- Thu ếch con bằng lưới nilon mắt nhỏ;

- Thu ếch thịt bằng lưới then 2 hoặc 3;

- Dụng cụ thu ếch phải trơn, nhẵn;

- Thời gian thu vào sáng sớm hay chiều mát.

3.2 Vận chuyển :

- Chọn ngày trời mát, nhiệt độ không khi dưới 30oC;

- Nòng nọc vận chuyển bằng thùng, xô, chậu có nước sạch; mật độ 80 - 100 con/lít; bằng túi PE có bơm ôxy : 600 - 800 con/lít;

- ếch con vận chuyển bắng sọt, rổ tre, lồng (có lót nilon) hoặc thùng, chậu, túi vải trong có 1 ít rong, bèo;

- ếch thịt vận chuyển dụng cụ lớn hơn, thiết kế nhiều tầng, không chồng đè lên nhau, thoáng và giữ được độ ẩm bão hoà.

4 Phòng và trị bệnh

4.1 Phòng bệnh :

- Vệ sinh, tẩy trùng ao, vườn trước khi nuôi;

- Ðảm bảo nguồn nước sạch và giữ được vệ sinh khu nuôi ếch;

- Kiểm tra ếch giống khi mua về, có thể tắm nước muối ăn 3%;

- Ðảm bảo số và chất lượng thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của nòng nọc và ếch;

- Không để xảy ra dịch bệnh.

4.2 Chữa bệnh :

- Bệnh ghẻ lở ở ếch : Dùng Dipterex (Dipterex la thuoc thu y thuy san da duoc bo thuy san cam su dung trong san xuat kinh doanh thuy san theo quyet dinh 07/2005/QD-BTS ngay 24/02/2005) phun với nồng động 100g hoà trong 50 lít nước phun trong 100m2 vườn và thay ngay nước cũ ở ao, mương;

- Bệnh trướng hơi : Phổ biến ở nòng nọc; dùng chậu chứa 5 lít nước sạch, hoà 1 lọ penicilin 1 triệu đơn vị; tắm nòng nọc trong 10 phút rồi lại thả lại ao, bể đã làm vệ sinh và thay nước mới; cũng có thể tắm bằng CuSO4 nồng độ 5 phần triệu hoặc nước muối ăn 3% trong 10 phút;

- Bệnh trùng bánh xe : Cả nòng nọc và ếch đều bị; dùng CuSO4 nồng độ 2 - 3 phần triệu phun xuống ao (2- 3 g/m3 nước);

- Bệnh kiết lỵ : Cũng ở nòng nọc và ếch, giảm lượng thức ăn xuống còn 50% trong ngày và trộn ganidan giã nhỏ vào thức ăn với liều lượng 1 viên/1 kg thức ăn; cho ăn 2 - 3 ngày liên tục.

 

Phạm Văn Trang

Thông tin KHCN Thuỷ Sản


VietLinh Pte.