Kỹ thuật sản xuất giống hàu

Sản xuất giống là giải pháp hoàn hảo để cung cấp giống một cách chủ động, nhưng đòi hỏi phải đầu tư lớn về phương tiện và nhận lực. Địa điểm có thể tiến hành sản xuất giống hàu là vùng ven biển, ao đầm nước lợ có điều kiện thủy lý hóa, môi trường tự nhiên đảm bảo các yêu cầu sau:

-         Nhiệt độ nước: 20 – 32 độ C

-         Độ mặn: 15-25 phần ngàn

-         pH: 7,8 – 8,0

-         DO: 4-6 mg/l

Các  bước sản xuất giống hàu như sau:

1.     Thu gom hàu bố mẹ

Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy các loài hàu giống Crassostrea có thể chuyển giới tính giữa các mùa sinh sản. Tỷ lệ đực: cái của hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) như sau:

Từ tháng 7 đến tháng 11, tỷ lệ đực: cái là 21-61%: 40-68%. Đây là thời điểm mà tỷ lệ hàu có sản phẩm chín muồi cao nhất.

Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tỷ lệ đực: cái là 38-90%: 0-16%.

Mùa vụ sinh sản của hàu vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

Chính vì vậy, việc thu gom hàu bố mẹ có thể dựa vào mùa sinh sản trong tự nhiên. Các cá thể được lựa chọn có kích thước lớn, hình dáng đẹp, vỏ không bị trầy xước, có tuyến sinh dục phát triển. Chiều dài vỏ có kích thước trung bình khoảng 9-10 cm, chiều cao vỏ khoảng 12,5 – 14,5 cm và trọng lượng toàn thân trung bình khoảng 600 – 1400g.

Các cá thể được thu gom có thể cho vào nuôi trong đầm hoặc bãi triều gần nơi sản xuất hoặc nuôi treo dưới bè trong môi trường tự nhiên trong đầm nước mặn hoặc vùng cửa sông, nơi có độ mặn từ 10-25%0, giàu thức ăn.

2.     Nuôi vỗ hàu bố mẹ

Nuôi vỗ tích cực hàu bố mẹ là một công đoạn cần thiết trong quy trình sản xuát giống nhân tạo. Vì các cá thể trong tự nhiên có tuyến sinh dục phát triển không đồng đều. Nếu đưa vào cho sinh sản ngay thì tỷ lệ các cá thể tham gia sinh sản thấp và lượng trứng thu được rất ít, ấu trùng không đảm bảo chất lượng. Việc nuôi vỗ có thể giúp cho hàu bố mẹ nhanh chóng đạt độ thành thục cao nhất, giúp trứng chín đồng đều, nâng cao hiệu quả của việc xử lý nhiệt khi kích thích sinh sản.

Hàu bố mẹ được đưa vào nuôi vỗ trong các bể có thể tích 1 m3 với mật độ nuôi khoảng 20-25kg/bể.

Thời gian nuôi từ 10-15 ngày.

Chế độ cho ăn: Thức ăn là hỗn hợp các tảo hiển vi: Isochrysis galbana, Pavlova lutheri, Chaetoceros cancitrans, nannochloropsis sp, Chlorella sp. Mật độ thức ăn là 150.000 – 200.000 tb/ml. Cho ăn 2 lần/ngày.

Chế độ thay nước: quá trình nuôi vỗ theo quy trình ít thay nước, thông thường chỉ thay 1/3 thể tích bể mỗi ngày. Những ngày cuối cùng của chu kỳ nuôi có thể không cần thay nước. Việc thay nước thường xuyên, liên tục cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của tuyến sinh dục. Khi tuyến sinh dục của hàu thành thục thì sự thay đổi các yếu tố môi trường đều có thể làm cho hàu sinh sản ngoài ý muốn.

Sục khí nhẹ và liên tục 24/24h.

3.     Kích thích sinh sản

Sau quá trình nuôi vỗ, kiểm tra tuyến sinh dục của hàu thấy rõ cơ quan sinh dục, tuyến sinh dục có màu trắng sữa chứa đầy nội tạng. Lúc này có thể tiến hành kích thích cho đẻ.

Điều kiện cần thiết cho sinh sản là nhiệt độ. Mỗi một loài sinh sản ở một ngưỡng nhiệt độ nhất định.

Hàu trước khi chuyển vào bể đẻ được đánh rửa sạch sẽ. Bể đẻ là các thùng nhựa có thể tích 120 lít. Dùng heter nhiệt để tăng nhiệt độ môi trường nước nuôi lên 2 – 30C trong vòng 30 phút, sau đó lại đưa nhiệt nước trở lại nhiệt độ ban đầu. Lặp lại  1- 2 lần quá trình tăng nhiệt. Phần lớn các cá thể có tuyến sinh dục phát triển giai đoạn 3 đều tham gia sau 1 – 2 lần chịu ảnh hưởng của kích nhiệt.

Sức sinh sản của hàu rất lớn và tùy thuộc vào kích cỡ cá thể, ví dụ như: hàu bố mẹ loại 40 – 80 mm sẽ cho 39 triệu trứng/ cá thể, loại 80 – 100 mm cho 81 triệu trứng/cá thể, loại 120 – 160 mm cho 184 triệu trứng/cá thể, loại > 160mm cho 257 triệu trứng/cá thể.

Yêu cầu sau quá trình kích thích bằng nhiệt độ có 50 – 60% số cá thể bố mẹ tham gia đẻ trứng, phóng tinh. Tỷ lệ thụ tinh cao từ 89 – 92%.

4.     Thu trứng

Trong trường hợp mật độ tinh trùng trong bể đẻ là 1-5 tinh trùng/trứng thì không cần lọc để thu trứng, có thể chuyển sang toàn bộ số trứng sang bể ương.

Khi mật độ tinh trùng nhiều hơn 5 tinh trùng/ trứng cần phải lọc lấy trứng và loại bỏ tinh trùng trong bể đẻ nhằm hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước ương nuôi do xác chết của tinh trùng. Dùng lưới thực vật phù du cỡ mắt lưới 40 – 50 µm để lọc trứng và loại bỏ tinh trùng. Trứng được rửa nhiều lần bằng nước biển lọc sạch.

5.     Ương ấu trùng

Trứng được chuyển vào các bể ương ấu trùng, sử dụng các bể composit hoặc các bể xi măng có dung tích 2-3 m3 để ương ấu trùng từ giai đoạn đỉnh vỏ thẳng đến giai đoạn đỉnh vỏ lồi có điểm mắt và chuẩn bị bám. Quá trình phát triển của trứng và ấu trùng được trình bày trong bảng sau:

 

Giai đoạn phát triển

Thời gian

Kích thước (µm)

Trứng thụ tinh

30 phút

50

Cực thể thứ nhất

1 giờ

50-60

Cực thể thứ hai

1 giờ 30 phút

50-60

Phân cắt lần 1

2 giờ

60

Phân cắt lần 2

2 giờ 10 phút

60

Giai đoạn phôi nang

5 – 10 giờ

60-70

Ấu trùng Trochophore

12 giờ

70

Ấu trùng đỉnh vỏ thẳng

24 giờ

80

Âu trùng đỉnh vỏ lồi

8 ngày

150

Ấu trùng có điểm mắt

18 ngày

170

Ấu trùng có chân bò

20 ngày

220-250

Ấu trùng bám

15 – 20 ngày

250-300

 

-    Mật độ ương: trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển của ấu trùng có thể ương với mật độ 15-20 ấu trùng/ml nước, sau 5-7 ngày san thưa xuống còn 10-12 ấu trùng/ml nước và 5 -7 ấu trùng/ml nước sau 20 ngày. Sử dụng lưới phù du có kích thước phù hợp vớt san thưa.

-    Cho ăn: Khi chuyển sang ấu trùng đỉnh vỏ thẳng (khoảng 48 – 52 giờ sau khi trứng được thụ tinh) tiến hành cho ăn. Lúc này thức ăn là các tảo hiển vi như Nannochloropsis sp, Chlorella sp. Từ ngày thứ 5 trở đi thức ăn là hỗn hợp các loài tảo hiển vi Isochrysis galbana, Pavlova lutheri, Chaetoceros cancitrans, nannochloropsis sp, Chlorella sp. Mật độ thức ăn 150.000 – 200.000 tế bào/ml. Cho ăn 2 lần/ngày.

-    Quản lý bể ương: thay 1/2 thể tích nước mỗi ngày và 100% thể tích nước sau 2 ngày và chuyển bể mới. Lọc ấu trùng theo 2 cách: xiphông qua thành bể hoặc rút từ đáy. Kiểm tra kích thước ấu trùng hàng ngày bằng kính hiển vi để lựa chọn lưới lọc có mắt lưới phù hợp với kích thước của ấu trùng và của từng kiểu lọc. Rửa sạch bể ương sau khi chuyển bể mới và cấp nước vào trước 1 ngày.

Nước cung cấp cho quá trình ương nuôi ấu trùng phải được để lắng 3-4 ngày, sau đó lọc thô qua hệ thống lọc cát và lọc tinh qua ống lọc 5 µm. Luôn đảm bảo oxy hòa tan ở mức trên 6 mg/l, pH: 7,8, độ mặn từ 15-20%0.

Sục khí nhẹ.

6.    Nuôi sinh khối tảo làm thức ăn cho ấu trùng (song song với quá trình ương ấu trùng)

-   Nuôi giống thuần lần thứ nhất: nuôi sinh khối ở mức 5-10 lít, cung cấp nguồn giống thuần cho các trại sản xuất giống. Sử dụng hệ thống chiếu sáng bằng đèn neon, sục khí mạnh vừa và liên tục.

Mật độ tảo có thể đạt 3 - 4 x 106 tb/ml.

-   Nuôi sinh thái tại cơ sở sản xuất

Tảo được nuôi trong các túi nylông hoặc các thùng nhựa có dung tích 120 lít. Môi trường dinh dưỡng để nuôi tảo là môi trường Colway hoặc môi trường F2 với nồng độ 1 ml môi trường/1 lít nước. Sục khí mạnh vừa và liên tục. Nước cung cấp cho hệ thống nuôi sinh khối tảo phải được lọc tinh qua ống lọc 1 µm.

7.    Âu trùng bám và thu con giống cỡ nhỏ

Trong điều kiện nhiệt độ 28 – 300C, độ mặn 18 – 20%0, sau 20 ngày ấu trùng hàu xuất hiện chân bò và có khả năng bám. Lúc này có thể tiến hành thu con giống cỡ nhỏ. Phương pháp thu con giống phụ thuộc vào hình thức nuôi, nếu nuôi khay hoặc nuôi túi thì thu con giống dạng đơn, nếu nuôi giàn bè, nuôi đáy thì có thể thu con giồng bám.

-    Thu con giống dạng đơn:

+   Thu con giống bằng các tấm nhựa PVC: các tấm nhựa PVC cắt ngắn từ 15-30 cm làm thành một chuỗi từ 10-15 tấm và thả vào bể có ấu trùng sắp bám. Sau 3 ngày ấu trùng đã bám cố định trên những tấm nhựa này.

Nuôi ấu trùng đã bám trong bể ương 15 ngày rồi chuyển nuôi ngoài và nuôi thành con giống cỡ 2-2,5 cm. Tách hàu giống bằng cách dùng tay uốn cong các tấm nhựa này, thu con giống rời và đem ra nuôi thành hàu thương phẩm. Khi nuôi lớn chúng phát triển không khác với con giống vào vật bám nhỏ. Đây là một phương pháp thu con giống rời đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng trong điều kiện hiện tại ở nước ta.

+   Thu giống đơn bằng bột vỏ điệp, hàu: trong quá trình ương nuôi, qua theo dõi hàng ngày, khi thấy ấu trùng ở giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ, trên 80% lượng ấu trùng trong bể đã có điểm mắt và chân đã hoạt động, kích thước trên 300 µm. Dùng dây chuyên dùng hoặc khay có đường kính 50-70 cm, cao 15-20cm, đáy là lưới thực vật phù du có cỡ mắt lưới 200 – 250 µm, trên đó rải một lớp bột vỏ hàu và điệp có kích thước 300 – 350 µm, ấu trùng sẽ bám vào bột vỏ này vĩnh viễn. Có thể sử dụng bột xi măng có kích thước 1-2 mm để thay thế. Ấu trùng được đưa vào khay với mật độ 5-7 con/ml, dùng hệ thống nước chảy tràn để duy trì 3-4 ngày. Khi ấu trùng bám hết thì chuyển sang hệ thống ương thành con giống

-    Thu con giống bám

Sử dụng các vật bám khác nhau như vỏ hàu, vỏ điệp, vỏ sò… xâu thành chuỗi dài 50-60 cm thả vào bể có ấu trùng sắp bám. Sau 3 – 4 ngày, chuyển các chuỗi treo dưới giàn, bè để tiếp tục ương thành con giống cấp 2 cỡ 2-2,5 cm.

Đây là phương pháp thu con giống rất phổ biến, vỏ điệp là loại vật bám rẻ tiền, dễ kiếm và rất tiện lợi. Trong quá trình nuôi lớn có thể tách riêng cá thể mà không ảnh hưởng tới các cá thể khác.

8.    Ương thành con giống cỡ 2-2,5cm

Khi đã có con giống cỡ nhỏ (dưới 1mm) phải qua một thời gian ương thành con giống cỡ lớn. Phương pháp hiện nay là sử dụng các khay gỗ 60 x 120 cm, đáy là lưới để ương thành con giống cỡ lớn (2-2,5cm)

Thanh Phương - TT Khuyến ngư VN/12/2007

 

Nuôi hàu

Ở giai đoạn ấu trùng hầu sống phù du. Ấu trùng hầu có khả năng bơi lội nhờ hoạt động của vành tiêm mao hay đĩa bơi. Ở giai đoạn trưởng thành hầu sống bám cố định trên các giá thể trong suốt đời sống của chúng.

Thức ăn của ấu trùng: vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo silic (Criptomonas, Platymonas, Monax), trùng roi (10 micro m hoặc nhỏ hơn). Ấu trùnc ó thể sử dụng vật chất hoà tan trong nứơc và những hạt vật chất hữu cơ. 

Thức ăn của hầu trưởng thành: thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, tảo: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula, Nitzschia, Thalassiothrix, Thalassionema...

Bặt mồi thụ động theo hình thức lọc trogn quá trình hô hấp nhờ cấu tạo đoặc biệt của mang. Khi hô hấp, nước có mang thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao. Hạt thức ăn kích thước thích hợp (nhỏ) sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau đó chuyển dần về phíc miệng. Các hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nứơc cuốn khỏi bề mặt mang, tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài.

Như vậy quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần: trên bề mặt mang, trên mương vận chuyển, trên xúc biện, trên mang nang chọc lọc thức ăn. Sau đó thức ăn đựơc đưa vào dạ dày để tiêu hoá nhờ các men Amylase, Lactase, Glycogenase, Lipase, Maltase, Protease. Hạt thức ăn không thích hợp được đểy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn.

Cường độ bắt mồi phụ thuộc: thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường: nhiệt độ, độ mặn...

Khi triều lên, cường độ bắt mồi tăng; triều xuống cường độ bắt mồi giảm.

Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp; ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao.

Khi yếu tố môi trường: nhiệt độ, độ mặn...trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao; khi không thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp.

Kỹ thuật nuôi

Chọn bãi nuôi

  • Độ sâu, đặc điểm nền đáy
  • Các yếu tố môi trường trong khoảng thích hợp, đặc biệt là nồng độ muối, độ trong, không bị nhiễm bẩn. Không có nguồn nứơc ngọt đổ ra trực tiếp
  • Dòng chảy và độ cao của thủy triều
  • Nguồn nước có đầy đủ thức ăn
  • Định hại
  • ít sóng gió, ít tàu bè qua lại; giao thông thuận lợi

Nguồn giống

  • Giống tự nhiên
  • Giống nhân tạo

Giá thể: 

Ấu trùng hàu bám vào các loại giá thể khác nhau: vỏ nhuyễn thể, đá, cọc... Khi không có giá thể cứng chúng có thể bám vào rong biển. Giá thể thích hợp là giá thể có chứa canxi (vỏ nhuyễn thể, đá vôi...)

Có thể dùng dây thừng, tre, ống nhựa, gỗ, sọ dừa... làm giá thể.

Giá thể có thể dùng để nuôi treo (bè, giàn) thì thường lớn và phải bền hơn giá thể dùng nuôi đáy.

Yêu cầu về giá thể: 

  • Rẻ, có số lượng lớn
  • Rắn, hơi nhám, bề mặt sạch (màu sắc khôgn quan trọng
  • Trọng lượng riêng thích hợp, không quá nặng khi treo, nhưng phải vừa đủ để không bị nổi.
  • Dễ vận chuyển
  • Diện tích bề mặt lớn 
  • Dòng nước chảy được qua toàn bộ bề mặt, đường kính đủ lớn cho sự sinh trưởng từ ấu trùng đến cỡ thu hoạch
  • Thích hợp cho cả nuôi treo hoặc nuôi đáy.
  • Ít tích tụ bùn trên bề mặt
  • Giá thể nuôi đáy phải dễ dàng phân huỷ sau 1 thời gian nuôi

Phương pháp nuôi:

  • Nuôi đáy: Giá thể thường là đá, sỏi, vỏ nhuyễn thể. Giá thể được rải xuống nền đáy ở vùng triền hay dưới triều. Áp dụng ở những nơi có nền đáy cứng, ít phù sa hay bã xác hữu cơ.
  • Nuôi cọc: Giá thể là cọc tre, gỗ, bê tông. Áp dụng ở những nơi có nền đáy mềm, nhiều phú sa và xác bã hữu cơ.
  • Nuôi giàn: Giá thể là các khay, que, chuỗi làm từ vỏ nhuyễn thể, gỗ, gáo dừa... Áp dụng cho nơi có nhiều phù sa, xác bã hữu cơ, phiêu sinh vật địch hại sống đáy (sao biển, ốc...)
  • Nuôi bè: Bè là một khung bằng gỗ, tre, dây thừng kết nối với nhau và được làm nổi bằng phao. Bè được giữ cố định nhờ dây neo ở 4 góc. Các chuỗi giá thể được treo trên khung bè, giá thể trogn nuôi nè cũng giống giá thể trong nuôi giàn

(Tham khảo GT nuôi hầu - ĐHCT, còn tiếp)

-------------------- 

 

Nuôi hàu thương phẩm

 

Hàu là động vật thân mềm hai mảnh vỏ, với hàng trăm loài khác nhau hiện đang được nuôi rộng rãi trên thế giới. Ở Việt Nam, hàu được nuôi ở các cửa sông, có kích thước lớn, phân bố rộng, và cũng được nuôi khá phổ biến.

Nuôi vỗ đàn bố mẹ

- Chọn những cá thể lớn, kích thước từ 15-20cm, khối lượng thân từ 800-1.500g, vỏ không bị dập vỡ để nuôi tạo đàn bố mẹ. Nuôi treo trong đầm, nơi có độ mặn tương đối ổn định từ 15-20‰ và giàu thức ăn.

- Trước khi cho đẻ, hàu bố mẹ được nuôi vỗ từ 5-10 ngày trong bể xi-măng, ít thay nước (20% thể tích bể/ngày), thức ăn là các loại vi tảo.

Cho đẻ và ương ấu trùng

Kích thích hàu đẻ bằng cách thay đổi nhiệt độ nước của môi trường nuôi từ 3- 40C để gây sốc kích thích hàu đẻ trứng, phóng tinh. Tỷ lệ đực cái là 4:6. Trứng thụ tinh ngay sau khi đẻ và được lọc qua lưới với kích thước mắt lưới 40mm và chuyển sang bể ương ấp.

- Mật độ ương ban đầu là 20-25 tế bào/ml. Sau 24 giờ lọc thu ấu trùng đỉnh vỏ thẳng và chuyển ương trong bể mới có dung tích 2-3m3 với mật độ 10-15 con/ml.

Chăm sóc và quản lý ấu trùng

- Hằng ngày thay 1/2 thể tích nước trong bể ương. Thay toàn bộ nước, vệ sinh bể và chuyển ấu trùng sang bể ương mới 2 ngày/lần.

- Cho ăn bằng vi tảo mật độ 1.000 - 5.000 tế bào/ml vào buổi sáng và chiều.- Sục khí 24/24 giờ; độ mặn là 8-20‰; nhiệt độ nước 24-300C; pH 7,8-8; nồng độ O2 từ 4-6mg/lít. Thấy ấu trùng phân tán đều trong bể là được.

Thu ấu trùng

Trong điều kiện bình thường, thời gian ương kéo dài từ 20-25 ngày. Khi ấu trùng đạt kích thước 250-350um chúng xuất hiện chân bò và chuyển sang trạng thái sống bám cố định vào giá thể. Đây là giai đoạn để thu con giống.

- Thu ấu trùng bám vào giá thể bằng các loại vật bám khác nhau như vỏ hàu, vỏ sò, ngói vỡ, tấm nhựa... để phục vụ nuôi treo.

- Thu ấu trùng ở dạng đơn: con giống bám vào vật bám với kích thước nhỏ (25um) như: bột xi-măng, bột vỏ hầu phục vụ cho kiểu nuôi khay. Xu thế hiện nay là sử dụng con giống dạng đơn để nuôi khay.

Nuôi thành con giống

Ấu trùng sau khi bám 2 ngày, đưa ra ngoài môi trường tự nhiên nuôi thành con giống. Nuôi treo hoặc nuôi khay trong thời gian 2 tháng, kích thước thu được từ 2-3cm chiều cao vỏ.

Nuôi thương phẩm

- Nuôi bè và giàn: Phương pháp này được áp dụng lâu đời, thích hợp với mọi thủy vực nông, sâu, là kiểu nuôi rẻ tiền, không yêu cầu kỹ thuật cao.

- Nuôi khay: Hàu giống (loại hàu đơn) được san đều trên các khay, kích thước 60x20x10cm, đáy bọc lưới. Khay được gác đều trên các giàn, cọc tre.

(Báo Nông thôn ngày nay)

 

-------------------------------

 

 
Các phương pháp nuôi hàu
Nuôi hàu ở Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp nuôi đá, cọc tre, ngói mái là chính. Ngày nay, phương pháp nuôi đã được cải tiến, từ công nghệ nuôi bãi, trở thành công nghệ nuôi giàn treo, nuôi bè, nuôi cọc xi măng là chính. Sau đây là một số phương pháp nuôi hàu phổ biến tại Việt Nam.

Nuôi hàu bằng đá vùng cửa sông

Phương pháp nuôi này phụ thuộc con giống tự nhiên, chi phí xây dựng cơ bản thấp, chi phí sản xuất hạn chế, nhưng hiệu quả tương đối cao. Có rất nhiều loại đá khác nhau để làm vật bám tùy thuộc vào từng địa phương như đá vôi làm vật bám rất tốt, đá cuội, đá san hô… Kích cỡ đá trung bình 2-4 kg/hòn và dao động từ 1-10 kg/hòn. Đá được chuyên chở bằng thuyền hoặc ghe rải đều trên bãi có hàu giống xuất hiện. Năng suất đạt 0,5-1,5 kg hàu nguyên con/hòn đá.

Nuôi hàu bằng cọc

Nguyên vật liệu làm cọc chủ yếu đúc bằng xi măng, cọc gỗ, cọc tràm, cọc tre… được cắm thành từng hàng vùng cửa sông hay trên vùng triều. Cọc có chiều dài 2m (chiều dài hữu dụng khoảng 1 – 1,5m). Loại hình này nuôi chủ yếu ở vùng đầm phá thuộc khu vực miền Trung như đầm Lăng Cô - Thừa Thiên Huế, hay khu vực huyện Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh. Năng suất nuôi khoảng 2-6 kg hàu nguyên con/cọc.

Nuôi hàu bằng lốp cao su

Nguyên liệu làm vật bám cho hàu là các giá thể bằng lốp ô tô, xe máy, xe đạp đã qua sử dụng, cho xuống các vùng ao đầm tự nhiên, khu vực đầm phá nơi có dòng nước thủy triều kém để thu giống tự nhiên và sử dụng nó làm giá thể cho hàu nuôi lớn đến lúc đạt kích cỡ hàu thương phẩm. Phương pháp nuôi này chủ yếu ở khu vực Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh, các đầm phá thuộc ven biển miền Trung.

Nuôi hàu bằng giàn

Nguyên vật liệu làm giàn là các cọc hình trụ đúc xi măng với chiều dài trung bình khoảng 1,2 - 1,8m, chiều rộng bề mặt khoảng 0,1m. Trọng tâm của mỗi trụ có một thanh sắt và trên đầu mỗi trụ có lỗ để xâu dây treo vào giàn và các giàn treo được cấu tạo bởi các thanh gỗ cứng đóng thành giàn hình chữ nhật hay hình vuông với chiều dài mỗi giàn trung bình 6,5-7,5 m, giàn bé thường có kích cỡ 4-5 m và giàn lớn có chiều dài 9-10 m, chiều cao mỗi giàn khoảng 5-6 m được chôn sâu từ 1 -2 m (vì khu vực nuôi thường có nền đáy bùn). Mỗi giàn được đặt cách mặt nước 0,5 cm lúc triều xuống. Do đó hàu nuôi luôn chìm sâu trong nước. Lồng nhỏ treo từ 32 - 40 trụ xi măng, lồng lớn có thể treo khoảng 200 trụ. Sản lượng nuôi khoảng 2 - 6 tấn hàu nguyên con/giàn. Phương pháp nuôi này phổ biến ở đầm Lăng Cô - Thừa Thiên Huế.

Nuôi hàu trong các lồng treo trên giàn

Cấu tạo giàn nuôi tương tự như giàn nuôi trên các cọc đúc xi măng. Hàu giống thu từ tự nhiên cho vào các lồng lưới có đường kính miệng lồng và đường kính đáy từ 0,4 – 0,5 m, chiều dài mỗi lồng khoảng 0,4m, kích cỡ mắt lưới 2a = 2 cm. Mỗi một lồng nuôi thả mật độ hàu giống trung bình khoảng 5 kg hàu, kích cỡ giống khoảng 3- 4 cm. Sau thời gian nuôi khoảng 5 tháng đạt năng suất trung bình 15 kg hàu thương phẩm/lồng. Như vậy là bằng phương pháp nuôi này chỉ sau 5 tháng nuôi hàu đạt sinh trưởng tăng gấp 3 lần. Phương pháp nuôi này chủ yếu tập trung từ Thừa Thiên Huế trở vào đến TP Hồ Chí Minh, đặc biệt các vùng nuôi thuộc đầm Lăng Cô.

NNVN, 18/04/2008