Nguồn tin: Báo Bình Định, 30/01/2013
Ngày cập nhật:
1/2/2013
Bình Định là một trong những địa phương phát triển mạnh nghề khai thác cá ngừ đại dương (KTCNĐD). Tuy vậy, việc bảo quản sản phẩm sau khai thác của ngư dân còn hạn chế, cùng với một số yếu tố khác đã làm ảnh hưởng đến chất lượng CNĐD. PV Báo Bình Định đã phỏng vấn bà Nguyễn Hải Bình - Trưởng phòng Quản lý nguồn lợi và môi trường thủy sản (Sở NN-PTNT tỉnh) về giải pháp nâng cao hiệu quả nghề KTCNĐD.
* Bà có thể cho biết khái quát về nghề KTCNĐD của ngư dân Bình Định?
- Tỉnh hiện có 7.588 tàu cá với tổng công suất 788.520 CV, trong đó có khoảng 1.900 tàu/19.000 lao động thường xuyên hoạt động KTCNĐD với 3 nghề chính: nghề câu vàng, nghề câu tay có sử dụng ánh sáng và nghề vây khơi, khai thác các loại: cá ngừ vàng vây, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn và cá ngừ sọc dưa.
Ngư dân Bình Định bán cá ngừ đại dương cho các cơ sở thu mua, chế biến.
Trước đây, nghề KTCNĐD của ngư dân tỉnh diễn ra chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm, còn nay ngư dân đánh bắt quanh năm. Thông thường, những tháng đầu mùa (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau), ngư dân tỉnh tập trung khai thác cá ngừ ở vùng biển Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa, vùng biển phía Bắc quần đảo Trường Sa; thời điểm giữa mùa (từ tháng 4 đến tháng 6) ngư dân tập trung đánh bắt ở vùng biển Trường Sa và vùng biển các tỉnh miền Trung; thời gian cuối mùa (từ tháng 7 đến tháng 11), ngư dân khai thác cá chủ yếu ở vùng biển Nam Trường Sa và Nam biển Đông.
Nhờ đầu tư đóng mới, nâng cấp tàu thuyền công suất lớn, bám biển khai thác dài ngày ở những vùng khơi xa, nên sản lượng CNĐD của ngư dân tỉnh đạt khá cao. Riêng năm 2012, ngư dân tỉnh đã khai thác được 9.386 tấn CNĐD, tăng 26% so với năm trước. Năm 2012 được xem là năm “ăn nên làm ra” của ngư dân KTCNĐD khi đầu ra sản phẩm ổn định, giá khá cao, nên bà con rất phấn khởi.
* Còn về chất lượng sản phẩm đánh bắt và hoạt động thu mua, chế biến CNĐD ở tỉnh, thưa bà?
- Thực tế cho thấy, sản lượng CNĐD của tỉnh khá lớn, nhưng chất lượng sản phẩm không như mong muốn. Nguyên nhân chủ yếu là khâu bảo quản sản phẩm của ngư dân còn hạn chế. Hiện hệ thống hầm bảo quản trên tàu cá của ngư dân chủ yếu làm bằng gỗ lót xốp cách nhiệt, mức độ giữ lạnh cho cá sau khi đánh bắt bị hạn chế, đặc biệt là đối với tàu hoạt động dài ngày. Dụng cụ xử lý sơ chế cá cũng chưa thật sự đảm bảo về mặt vệ sinh; chất lượng nước đá chưa được bảo đảm. Ngoài ra, do hệ thống kho lạnh tại các bến cảng chưa có hoặc còn thiếu, nên việc thao tác bốc dỡ cá từ tàu đưa vào kho để phân loại của các cơ sở thu mua còn kéo dài, gặp thời tiết nắng nóng làm cho cá giải nhiệt, không được giữ lạnh liên tục... khiến chất lượng cá bị giảm.
Để nâng cao chất lượng sản phẩm, chúng tôi đã tập huấn hướng dẫn ngư dân áp dụng quy trình bảo quản sản phẩm sau khi khai thác. Cụ thể, sau khi đánh bắt được cá ngừ thì giết cá ngay, lấy nội tạng, xả máu và ngâm cá với nước biển lạnh (nước biển và đá) để cá lạnh từ từ rồi mới bỏ nước đá vào bụng cá. Chúng tôi cũng đã xây dựng mô hình cải tiến hầm cá nhằm mục đích giúp ngư dân bảo quản sản phẩm tốt hơn, song chưa được ngư dân áp dụng rộng rãi. Bà con cho rằng, sau khi áp dụng quy trình bảo quản sản phẩm sau khai thác và cải tiến hầm chứa cá, chất lượng sản phẩm cao hơn thấy rõ, nhưng chi phí đầu vào tăng, trong khi sản phẩm cùng loại đều được các cơ sở thu mua với giá tương đương, ít nhiều đã ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân, nên bà con không áp dụng cũng là điều dễ hiểu.
Đối với hoạt động thu mua và chế biến CNĐD, tỉnh hiện có 19 cơ sở thu mua và chế biến, chủ yếu tại TP Quy Nhơn và huyện Hoài Nhơn. Trong đó, Công ty cổ phần Thủy sản Bình Định là đơn vị duy nhất tham gia thu mua và chế biến sản phẩm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to dưới dạng cấp đông để xuất khẩu, với công suất khoảng 35 - 40 tấn/ngày. Hầu hết các cơ sở thu mua CNĐD ở tỉnh đều là vệ tinh của các doanh nghiệp (DN) ở Khánh Hòa và TP Hồ Chí Minh. Đầu ra và giá sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào các cơ sở thu mua này. Thực tế cho thấy, các cơ sở thu mua CNĐD chưa thực sự quan tâm đến chất lượng sản phẩm, nên ít nhiều đã tác động đến việc quan tâm nâng cao chất lượng sản phẩm của ngư dân.
* Theo bà, cần phải làm gì để nâng cao chất lượng sản phẩm CNĐD, tiến tới xây dựng thương hiệu CNĐD Bình Định?
- Để nâng cao chất lượng sản phẩm CNĐD, cần có sự đồng thuận giữa Nhà nước, ngư dân và DN. Đối với ngư dân, bà con cần phải đầu tư trang thiết bị, hầm bảo quản và cải tiến khâu xử lý, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch. DN cần gắn kết với ngư dân trong việc khuyến khích bà con nâng cao chất lượng CNĐD, lấy chất lượng làm mục tiêu kinh doanh và là yếu tố tăng lợi nhuận cho cả ngư dân và DN. Đồng thời, DN cần căn cứ chất lượng thực tế để đưa ra giá mua thích hợp, tăng cường sự hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, tạo sức mạnh trong kinh doanh. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân tiếp cận các nguồn vốn vay, để ngư dân không chịu sự ràng buộc trong việc vay vốn trả lãi suất cao, hoặc ứng vốn và trả lại sản phẩm cho DN với giá thấp. Bên cạnh đó, phải tổ chức đào tạo và tập huấn cho ngư dân phương pháp đánh bắt, xử lý, sơ chế và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch. Xây dựng trung tâm giao dịch, mua bán và dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bốc dỡ, vận chuyển sản phẩm từ tàu vào hệ thống kho lạnh được nhanh chóng, hạn chế tối đa sự giải nhiệt làm ảnh hưởng đến chất lượng CNĐD.
Theo chúng tôi, thực hiện đồng bộ các giải pháp nói trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng CNĐD, tăng giá trị sản lượng, tăng hiệu quả chuyến biển và tăng thu nhập cho bà con ngư dân. Qua đó, nâng cao uy tín và phát triển thương hiệu CNĐD của Bình Định trên thị trường trong và ngoài nước.
* Xin cảm ơn bà!
PHẠM TIẾN SỸ
- Kỹ thuật nuôi tôm, nuôi cá, phòng trị bệnh tôm, cá và các loại thủy sản khác
Các tin chế biến, xuất nhập khẩu thủy hải sản khác:
Các tin cũ: năm 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 | 2007:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
67
68
69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
82
83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109
110
111
112
113
114
115
116
117
118
119
120
121
122
123
124
125
126
127
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
138
139
140
141
142
143
144
145
146
147
148
149
150
151
152
153
154
155
156
157
158
159
160
161
162
163
164
165
166
167
168
169
170
171
172
173
174
175
176
177
178
179
180
181
182
183
184
185
186
187
188
189
190
191
192
193
194
195
196
197
198
199
200
201
202
203
204
205
206
207
208
209
210
211
212
213
214
215
216
217
218
219
220
221
222
223
224
225
226
227
228
229
230
231
232
233
234
235
236
237
238
239
240
241
242
243
244
245
246
247
248
249
250
251
252
253
254
255
256
257
258
259
260
261
262
263
264
265
266
267
268
269
270
271
272
273
274
275
276
277
278
279
280
281
282
283
284
285
286
287
288
289
290
291
292
293
294
295
296
297
298
299
300
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
313
314
315
316
317
318
319
320
321
322
323
Bệnh phân trắng không làm tôm chết nhanh và chết hàng loạt như bệnh đốm trắng hay bệnh gan tụy cấp, nhưng nếu không khống chế sẽ gây ra những thiệt hại to lớn cho người nuôi tôm...
Thông tin nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nuôi trồng, kỹ thuật, chế biến, nông sản, trồng trọt, chăn nuôi, thị trường, nuôi tôm, nuôi cá, gia súc, gia cầm, việc làm, mua bán, vật tư thiết bị, môi trường, phân bón, thuốc bảo bệ thực vật, thuốc trừ sâu, thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây hoa màu, cây lương thực, cây hoa cảnh, cây thuốc, dược liệu, sinh vật cảnh, phong lan, nông thôn, nông dân, giải trí. All of aquaculture, agriculture, seafood and aquarium: technology, market, services, information and news.